TIN HOẠT ĐỘNG

VĂN BẢN

TƯ LIỆU

Ý kiến cử tri - Ý kiến Đại biểu

GIỚI THIỆU VỀ CAO BẰNG

LIÊN KẾT

Công báo Cao Bằng
Thủ tục hành chính Cao Bằng
Cổng thông tin Cao Bằng

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 37

Máy chủ tìm kiếm : 3

Khách viếng thăm : 34


Hôm nayHôm nay : 1633

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 90111

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6257854

Trang nhất » Tin tức sự kiện » Tin trong nuớc

Bảo đảm thống nhất trong hệ thống luật

Thứ ba - 17/07/2018 13:22
Thảo luận về dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, nhiều ý kiến cho rằng đây là luật khó, khó bởi vừa yêu cầu bảo đảm thông tin mật của Nhà nước nhưng đồng thời cũng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân. Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật cũng như không ảnh hưởng đến quyền tiếp cận thông tin của người dân, cần rà soát kỹ quy định của dự thảo Luật này và các luật khác có liên quan, trong đó có Luật Lưu trữ để bảo đảm các quy định không được “vênh” nhau.

Quy định cụ thể trường hợp đương nhiên hết hạn bảo mật

Điều 22 của dự thảo Luật quy định: Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước là khoảng thời gian được tính từ ngày quyết định độ mật của bí mật nhà nước đến hết thời hạn sau: 30 năm đối với bí mật nhà nước độ Tuyệt mật; 20 năm đối với bí mật nhà nước độ Tối mật; 10 năm đối với bí mật nhà nước độ Mật. Đối với bí mật nhà nước cần công khai sau khi kết thúc sự kiện, hoạt động thì thời hạn bảo vệ có thể ngắn hơn thời hạn quy định tại Khoản 1 điều này của dự thảo và phải xác định thời hạn cụ thể tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi quyết định độ mật. Ngoài ra, dự thảo Luật cũng quy định, thời hạn bảo vệ địa điểm chứa bí mật nhà nước có thể ngắn hơn hoặc dài hơn thời hạn quy định tại Khoản 1 điều này và kết thúc khi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền không sử dụng địa điểm đó để chứa bí mật nhà nước.

Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định phát biểu tại Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Ảnh: Quang Khánh

Thực tế, qua quá trình thảo luận về nội dung này, nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước là tối đa hay tối thiểu. Có ý kiến đề nghị quy định theo hướng căn cứ vào tài liệu cụ thể mà người đứng đầu có thể đưa ra quyết định xác định thời hạn bảo vệ.

Về vấn đề này, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh Võ Trọng Việt cho rằng, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước quy định trong dự thảo Luật là thời hạn áp dụng chung đối với tất cả bí mật nhà nước để bảo đảm thống nhất trong hoạt động bảo vệ bí mật nhà nước, tránh trường hợp tự quyết định thời hạn bảo vệ dài hoặc ngắn theo ý chí chủ quan của người quản lý bí mật nhà nước. Trong thời hạn bảo vệ, căn cứ vào các quy định về gia hạn, giải mật, tiêu hủy bí mật nhà nước, cơ quan hoặc người có thẩm quyền sẽ quyết định việc gia hạn, giải mật hoặc tiêu hủy bí mật nhà nước phù hợp với tình hình thực tế và đáp ứng yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước đối với từng trường hợp cụ thể.

Như vậy, ngoài những trường hợp quy định “cứng” về thời hạn bảo vệ bí mật như Khoản 1, Điều 22 thì dự thảo Luật có quy định về những trường hợp thời hạn bảo mật có thể được rút ngắn hơn thời hạn quy định tại Khoản 1 điều này và phải xác định thời hạn cụ thể tại tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước khi quyết định độ mật. Nhiều ý kiến cho rằng, quy định này là cần thiết và phù hợp với thực tiễn. Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định nêu dẫn chứng, lịch đi công tác của Chủ tịch QH, lịch đi máy bay, đây là tài liệu tuyệt mật. Nhưng sau khi Chủ tịch QH hạ cánh xuống sân bay là hết “tuyệt mật” thì tại sao phải để đến 30 năm? Hay lịch công tác tuần của lãnh đạo QH, của Bộ Chính trị toàn tối mật, nhưng họp xong là thôi. Do đó, cần quy định cụ thể những trường hợp đương nhiên hết hạn bảo mật, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Nguyễn Khắc Định nêu kiến nghị.

Chưa thống nhất trong hệ thống pháp luật

Điều 23 dự thảo Luật Bí mật nhà nước quy định về gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước. Theo đó, thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước được gia hạn nếu việc giải mật gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Ít nhất 60 ngày trước ngày hết thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước, người đứng đầu cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước quyết định gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước. Mỗi lần gia hạn không quá thời hạn bảo vệ quy định tại Khoản 1, Điều 22 của Luật này. Ít nhất 15 ngày sau khi gia hạn, cơ quan, tổ chức quyết định gia hạn phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Ngoài phân loại và danh mục bí mật nhà nước, nhiều ý kiến quan tâm đến nội dung “giải mật” của dự thảo Luật. Bởi khi chưa được “giải mật”, đồng nghĩa với việc người dân chưa có quyền được tiếp cận đối với những thông tin này. Điều 24 dự thảo Luật quy định: Bí mật nhà nước được giải mật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau: hết thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 22 và hết thời gian gia hạn tại Điều 23 của Luật này; đáp ứng yêu cầu thực tiễn bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; phát triển kinh tế - xã hội; hội nhập, hợp tác quốc tế; không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước…

Liên quan đến thời gian giải mật, Thứ trưởng Bộ Công an Bùi Văn Nam cho rằng, Bộ Công an đã nghiên cứu thực tiễn tình hình nước ta và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới để đưa ra quy định về thời gian giải mật. Cũng theo ông Bùi Văn Nam, thời gian giải mật sau 30 năm, 20 năm và 10 năm là tương đối phù hợp. Khoản 2, Điều 24 quy định, đối với các trường hợp quy định tại Điểm a và Điểm c, Khoản 1 điều này sẽ tự giải mật. Trường hợp quy định tại Điểm c, Khoản 1 điều này, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định độ mật của bí mật nhà nước phải đóng dấu, có văn bản hoặc dấu hiệu khác xác định đã giải mật và thông báo ngay bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức có liên quan. Như vậy, với từng trường hợp cụ thể, thì thời gian giải mật có khác nhau. Ông Nam nêu ví dụ, lịch làm việc của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trước khi có những hoạt động đó là “hết sức bí mật” nhưng sau đó có những trường hợp có thể giải mật. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp không thể giải mật được ngay. Hay như chương trình hoạt động đối ngoại của các đồng chí lãnh đạo cấp cao thì phải giữ, chưa giải mật trong rất nhiều năm.

Nhấn mạnh, việc ban hành luật cần bảo đảm tính thống nhất, bảo đảm tính liên thông của hệ thống pháp luật, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Triệu Văn Cường chỉ ra điểm “vênh” của dự thảo Luật này với Luật Lưu trữ.  Điều 22 về thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước, mục 1 quy định “thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước là khoảng thời gian được tính từ ngày quyết định độ mật của bí mật nhà nước đến hết thời hạn sau 30 năm đối với bí mật nhà nước độ tuyệt mật, 20 năm đối với bí mật nhà nước độ tối mật và 10 năm đối với bí mật nhà nước độ mật”. Trong khi đó, Khoản 4, Điều 30 Luật Lưu trữ quy định: Danh mục tài liệu có đóng dấu chỉ các mức độ mật được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp: Sau 40 năm, kể từ năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu mật nhưng chưa được giải mật và sau 60 năm, kể từ năm công việc kết thúc đối với tài liệu có đóng dấu tối mật, tuyệt mật nhưng chưa được giải mật.Như vậy, so với Luật Lưu trữ thì quy định của dự thảo Luật Bảo vệ bí mật nhà nước có sự “vênh” nhau. Trên cơ sở đó, ông Cường đề nghị, cần xem xét lại quy định này của dự thảo Luật. Trong trường hợp muốn điều chỉnh như dự thảo Luật này thì Luật Lưu trữ buộc phải sửa đổi, ông Cường nêu ý kiến. Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho rằng, luật này khó và quan trọng, trong hoạt động của Nhà nước phải bảo đảm yêu cầu công khai, minh bạch, cái gì cần bảo vệ, cần công khai, minh bạch thì phải thể hiện rõ. Chúng ta phải rà soát để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu lưu ý.

Nguồn tin: daibieunhandan.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trả lời cử tri

Chuyên mục cơ quan Dân cử và Cử tri

Người tốt việc tốt
Quốc hội
Báo đại biểu nhân dân

THƯ VIỆN ẢNH