TIN HOẠT ĐỘNG

VĂN BẢN

TƯ LIỆU

Ý kiến cử tri - Ý kiến Đại biểu

GIỚI THIỆU VỀ CAO BẰNG

LIÊN KẾT

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 35

Máy chủ tìm kiếm : 10

Khách viếng thăm : 25


Hôm nayHôm nay : 4117

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 117901

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4831756

Công báo Cao Bằng
Thủ tục hành chính Cao Bằng
Cổng thông tin Cao Bằng

Trang nhất » Tin hoạt động » Văn hóa - Lịch sử - Con người

Lễ tết báo hiếu của người Tày, nùng Cao Bằng

Thứ ba - 06/08/2013 20:34
   
Mâm xôi gà trong những dịp lễ tết

Trong vòng chu kỳ của một năm với bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, trải dài trên mười hai tháng, đối với đồng bào Tày, Nùng quanh năm gần như tháng nào cũng có tết, mỗi ngày lễ tết đều có nguồn gốc và ý nghĩa khác nhau, nhưng tất cả đều hàm chứa những giá trị văn hoá đặc sắc của dân tộc và mang tính nhân văn sâu sa. Theo phong tục truyền thống của người Tày, Nùng từ xa xưa tới ngày nay có ba dịp lễ tết đặc biệt quan trọng trong đời sống tâm linh để báo hiếu cho cha mẹ, ông bà, tổ tiên và những người đã khuất: Đó là lễ tết “Xại Mạ”, lễ Xại mạ nghĩa là lễ Tảo mộ vào ngày mồng 3 tháng 3 và lễ tết  “Pây Tái hoặc Pây chường Tái Tá gọi tắt là Pây Tái” vào ngày mồng 2 tháng giêng và ngày rằm tháng bảy hàng năm.
       Lễ tết thứ nhất: Lễ “Xại mạ” Lễ tảo mộ mồng 3 tháng 3 chủ yếu báo hiếu cho những người đã khuất, đến ngày lễ tảo mộ con cháu dù đi làm ăn xa tận đâu đâu cũng đều trở về xum họp, cùng nhau chuẩn bị đồ lễ (gồm Xôi ngũ sắc, thịt gà, thịt lợn, cá rán, các loại bánh kẹo, hoa quả, rượu, tiền vàng mã, hương nến) đi đến nơi yên nghỉ của  tất cả nhiều đời ông bà, tổ tiên, những người đã khuất để viếng, sửa xang mộ phần cho người thân.
      Lễ tết thứ hai: “Pây Tái hoặc Pây chường Tái Tá” vào ngày mồng 2 tháng giêng. Lễ  này chủ yếu thăm hỏi và tạ ơn những người còn sống và  báo hiếu cho tổ tiên và những người đã khuất. Cứ mỗi dịp tết đến, xuân về ngoài việc chúc tụng thăm hỏi mọi người thân trong gia đình, dòng họ mình. Người Tày, Nùng còn có một lễ tết đặc biệt quan trọng và mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đó là lễ tết cha mẹ, ông bà, tổ tiên gia đình bên ngoại, đồng bào gọi lễ tết này lễ “Pây chường Tái Tá” gọi tắt là “Pây Tái” có nghĩa là về lễ tết bố mẹ vợ, ông bà ngoại của các con, Tái có nghĩa là bà ngoại, Tá có nghĩa là ông ngoại. Các đồ lễ đưa sang biếu cho cha mẹ, ông bà và cúng lễ tổ tiên bên nhà ngoại, tuỳ theo các sản vật sẵn có của từng địa phương, rất đa dạng, nhưng nhất nhất phải có chú gà trống thiến béo bợ, hai kg thịt lợn, hai cặp bánh trưng, hai chục phong bánh khảo và các loại bánh kẹo, rựợu... để biếu bố mẹ, ông bà và cúng lễ tổ tiên, báo hiếu những người đã khuất bên nhà bố mẹ vợ. Ngày nay theo cơ chế thị trường cũng có sự xáo trộn về đồ lễ nhưng vẫn không thể thiếu được chú gà trống thiến.
       Lễ tết thứ ba: “Pây Tái hoặc Pây chường Tái Tá” Vào ngày rằm tháng bảy. Bổn phận của những người phụ nữ Tày, Nùng sau khi đã đi lấy chồng, quanh năm phải cùng chồng con chú tâm công việc làm ăn nơi nhà chồng, lo toan quán xuyến hương khói thờ phụng ông bà tổ tiên nhà chồng. Trong năm duy nhất chỉ có ngày mồng 2 tháng giêng và ngày rằm tháng 7 mới có dịp được trở về nhà bố mẹ đẻ để tự tay được chăm sóc cha mẹ và sửa soạn lễ cúng tạ ơn ông bà tổ tiên. Rằm tháng bảy người Tày, Nùng cũng có tín ngưỡng cúng “Xá tội vong nhân”, mọi thủ tục và nghi thức cúng bái cũng giống như người Kinh. Người Tày, Nùng cũng có lễ báo hiếu cho cha mẹ, ông bà và những người đã khuất giống như lễ Vu Lan trong Phật giáo. Điểm khác biệt trong lễ cúng rằm báo hiếu cho cha me, ông bà, tổ tiên của người Tày, Nùng có hai phần việc khác nhau gồm: Lễ cúng tạ ơn những người đã khuất và Lễ tết thăm hỏi những người còn sống. Cứ đến ngày rằm tháng bảy hàng năm, những người con gái đã đi lấy chồng, từ những người vợ trẻ cho đến các bà các cụ lại nao nức được dịp trở về thăm hỏi lễ tết cha mẹ, ông bà, gia đình, dòng họ, tổ tiên nơi đã sinh dưỡng ra những người mẹ, người bà. Đồ lễ về lễ tết cha mẹ, ông bà, tổ tiên bên nhà vợ vào dịp này gồm một đôi vịt, vài chục đôi Pẻng tải (Pẻng tải đăm, pẻng tải khao), (Pẻng tải đăm là bánh gai, Pẻng tải khao là bánh dậm). Pẻng tải, đây là loại bánh phong tục đồng bào Tày, Nùng chỉ làm nhiều vào dịp rằm tháng bảy để làm đồ lễ cúng ông bà, tổ tiên và làm quà biếu cho gia đình bên ngoại. Tết Rằm tháng Bảy, người Tày, Nùng thường làm rất nhiều pẻng tải, loại bánh này chất liệu, quy cách chế biến giống như làm bánh gai, bánh dậm của người Kinh. Có điểm khác biệt là pẻng tải của người Tày, Nùng có hình dẹp, sau khi làm chín người ta dùng kéo tỉa đuôi những chiếc bánh thành hình đuôi con chim én rồi cặp bánh thành từng đôi rồi treo lên sào trông rất đẹp mắt. Con chim Én với quan niệm của người Tày, Nùng là loại chim giao tiếp giữa thần linh và con người. Họ treo như thế cả tháng. Ai muốn cứ thế gỡ xuống bóc ăn. Ai đi rừng đi nương,  đi làm ngoài đồng mang theo vài cặp, phũng khi bị đói. Pẻng tải đăm của người Tày, Nùng được làm bằng nhiều thứ lá cây cỏ pha trộn lẫn với bột gạo nếp. Không chỉ đơn thuần một vị lá gai như bánh gai của người Kinh. Chính vỡ thế bỏnh gai của người Tày, Nùng giữ được lâu, vẫn mềm bánh mà không bị mốc hỏng. Vào ngày rằm tháng bảy. Con gái, con rể, các cháu ngoại thường “Pây Tái” rất sớm với gánh đồ lễ, trong đó không thể thiếu đôi vịt béo. Khi gần đến đầu làng, các chàng rể chọc cho con vịt kêu cạp cạp. Báo cho mọi người không chỉ trong gia đỡnh nhà vợ mà là cả làng, cả bản biết con rể đó tới. Đến ngày này, mà không thấy con rể về, sẽ bị họ hàng bên ngoại chê trách. Tất nhiên các con rể ngày nay lại càng phải bày biện lễ lạt to hơn, chu đáo hơn. Dự bận cụng việc cũng phải thu xếp để “Pây tái”. Thể hiện lũng hiếu thảo, biết ơn cha mẹ, ông bà, tổ tiên bên ngoại. Những người có công sinh thành, nuôi dạy vợ mình. Hiện nay, cuộc sống đó khấm khỏ, nhiều chàng rể nào ăn nên làm ra. Có nhiều người được học hành công tác tiến bộ, họ đó trưởng thành. Có nhiều người làm đến chức ông nọ ông kia. Có người là giám đốc xí nghiệp, Công ty,  Doanh nghiệp, có xe con đưa đón về tận nhà, quà cáp thỡ càng nhiều hơn, đa dạng hơn. Khi về tới nhà bên ngoại các con gái, cháu gái mới tập trung làm thịt vịt, cả nhà vui vẻ cùng chung tay chế biến các món ăn truyền thống của dân tộc từ thịt vịt. Món thịt vịt đặc trưng nhất của người Tày, Nùng là món vịt quay Mắc mật. Món thịt vịt om mác mạt cũng là món ngon không thể thiếu trong mân cỗ cũng như  trong mân cơm cúng rằm của người Tày, Nùng. Vịt mổ xong, tẩm ướp đầy đủ gia vị, nhồi lá mác mật vào bụng con vịt rồi khâu lại, phết một chút mật ong rừng lên ngoài da. Đem ra quay theo kiểu bí truyền của dân tộc, hiện nay món thịt vịt quay lá mác mật của người Tày, Nùng đó trở thành mún ăn đặc sản của dân tộc, được thực khách thập phương thưởng thức khen ngợi. Người Tày, Nùng thường có câu cửa miệng khi nói về các món ăn thuộc về phong tục của dân tộc mỡnh: Bươn Chiêng kin nựa Cáy, bương chất kin nựa Pết nghĩa là tết thỏng giờng thỡ ăn thịt gà, tết tháng bảy thỡ ăn thịt vịt. Con vịt trong tâm thức của người Tày, Nùng cũn được coi là con vật thiêng. Cũn cú cõu núi cửa miệng khỏc: “Hất lăng lẻ hất, bươn chất mẻn mì tối Pết tặt Pù chỏ vạ Pây Tái chắng đảy” có nghĩa là làm gì thì làm, tết rằm tháng bảy phải có đôi vịt để cúng tổ tiên và biếu cha mẹ ông bà nhà vợ mới được. Con vịt được coi là con vật thiêng trong Tâm linh của người Tày, Nùng vì con vịt là vị sứ giả của mường trần gian với mường trời. Con vịt đã có công cõng gà trống vượt biển (khảm hải) đi cống sứ mường trời vào ngày mười rằm tháng bảy hàng năm.
         Con vịt còn là con thuyền của tiên nữ thứ bảy ở trên mường trời đó trốn cha xuống lấy chồng ở mường trần gian. Vì không nghe lời cha, vua cha tức giận bèn cho người nhà xuống trần gian thu lại đôi cánh tiên của nàng, nàng không còn đôi cánh để bay về mường trời được nữa. Ở dưới mường trần gian lâu ngày nàng nhớ cha mẹ, nhớ mường trời, nhưng không có cách nào để trở về mường trời, vỡ biển rộng nước lớn nàng đó ngồi khúc thảm thiết bờn “Pế tiên” (Hồ tiên), nơi trước đây nàng xuống tắm cùng các chị của nàng và ở đó nàng đã phải lòng anh chàng mồ côi nơi mường trần đang đốn củi trên bờ hồ. Mẹ tiên ở trên mường trời nghe nàng khóc, thương con gái út đó sai con vịt xuống mường trần gian cõng nàng về thăm cha mẹ ở trên mường trời vào ngày rằm tháng bảy. Phải chăng ? phong tục nhất thiết trong lễ tết rằm tháng bảy của người Tày, Nùng phải có vịt để để biếu cha mẹ, ông bà bên nhà vợ và trên mân lễ cúng rằm tháng bảy không thể thiếu được món thịt vịt được bắt nguồn từ đây;
Đồ uống trong các dịp lễ tết nêu trên không thể thiếu món rượu. Rượu không chỉ để làm đồ lễ cúng tổ tiên, những người đã khuất. Rượu còn là món đồ uống đặc biệt trong bữa cơm sum họp đầy đủ con gái, con rể, các cháu ngoại cùng họ hàng dòng họ bên ngoại. Rượu là đồ uống phổ biến của người Tày, Nùng, gồm hai loại: Một loại được ủ bằng gạo nếp, không đem cất mà để uống và ăn cả bã và một loại rượu cất được chế biến từ nhiều nguyên liệu khác nhau như: ngô, gạo, khoai, kê, mạch, bột thân cây báng ở trong rừng. Rượu được uống nhiều trong các dịp lễ tết, hội hè, trong đám cưới, đám tang và tiếp khách. Đặc biệt rượu còn được dùng làm thuốc và cúng tế các thần linh.
       Qua những phong tục, tín ngưỡng kể trên, hy vọng giúp mọi người hiểu thêm về sự tích và ý nghĩa của việc cúng lễ tết cha mẹ, ông bà, tổ tiên và những người đó khuất vào ngày mồng hai thỏng giờng, ngày mồng ba thỏng ba, ngày rằm thỏng bảy hàng năm cũng như phong tục “Pây Tái” lễ tết cha mẹ, ụng bà, tổ tiờn, những người đó khất bên nhà vợ của người Tày, Nùng. Những phong tục nêu trên có vẻ huyền bí, nặng tính Tâm linh nhưng ít nhiều hàm chứa ý nghĩa nhân văn sâu sắc./

Tác giả bài viết: Hoàng Thị Nhuận

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trả lời cử tri

Chuyên mục cơ quan Dân cử và Cử tri

Người tốt việc tốt
Quốc hội
Báo đại biểu nhân dân

THƯ VIỆN ẢNH