TIN HOẠT ĐỘNG

VĂN BẢN

TƯ LIỆU

Ý kiến cử tri - Ý kiến Đại biểu

GIỚI THIỆU VỀ CAO BẰNG

LIÊN KẾT

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 29

Máy chủ tìm kiếm : 2

Khách viếng thăm : 27


Hôm nayHôm nay : 3650

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 81784

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 5144229

Công báo Cao Bằng
Thủ tục hành chính Cao Bằng
Cổng thông tin Cao Bằng

Trang nhất » Tin hoạt động » Diễn đàn người đại biểu

Quyết liệt và thiết thực để thay đổi nhận thức, nâng cao dân trí, trình độ sản xuất và ý chí vươn lên thoát nghèo cho đồng bào

Thứ bảy - 26/04/2014 03:39
Thời gian gần đây, các phiên giải trình của các Ủy ban diễn ra khá dày, và khoan nhặt.Các hãng thông tấn vỉa hè nhận xét Quốc hội Khóa XIII dạo này chịu chơi. Nhắc lại lời của họ, nhiều vị mũ cao áo dài không thích, có người còn cho là phạm thượng – nhưng cuộc đời vốn thế, nên cứ để nó diễn ra như thế - có sao đâu.

Sáng qua, Hội đồng Dân tộc và Ủy ban Về các vấn đề xã hội đã có phiên giải trình vềthực hiện chính sách giảm nghèo đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Cử tri hào hứng nghe. Các đại biểu gần như không để thời gian chết. Cử tri cũng không để thời gian chết, nguồn mạch cuộc sống cứ thế trôi chảy và sáng rõ.

Ai lo cho dân? Ai làm việc vì dân? Dân có thoát được đói nghèo không, nhất là vùng đồng bào dân tộc?

Câu trả lời có ngay trong phiên giải trình.

Cử tri hiểu, cảm thông với Nhà nước và cám ơn nhiều các đại biểu của họ.

ĐB Trần Quang Chiểu (Nam Định): Thiếu đất ở, đất sản xuất là một trong những nguyên nhân lớn gây nghèo - Bộ trưởng có giải pháp gì giải quyết vấn đề này?

Thiếu đất ở, đất sản xuất đang là một trong những nguyên nhân lớn gây phát sinh nghèo. Chỉ riêng đồng bào dân tộc thiểu số đã có 326.909 hộ không có đất hoặc thiếu đất sản xuất, đất ở. Chúng ta mới giải quyết được 41% như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc báo cáo. Đề nghị Bộ trưởng cho biết nguyên nhân thiếu đất? Giải pháp trước mắt và lâu dài để giải quyết vấn đề này ra sao?

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử: Đây không chỉ là việc của một vài cơ quan mà là sự nghiệp chung của cả nước, các tỉnh phải chia sẻ

Thiếu đất sản xuất không chỉ là vấn đề đối với đồng bào dân tộc mà còn là vấn đề của cả nước. Nhưng đối với khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và với đồng bào dân tộc thiểu số thì đây là vấn đề rất nóng. Chúng ta đều biết thực trạng này, nhưng chưa xử lý hiệu quả trong thời gian qua. Giải quyết chưa hiệu quả vì mấy nguyên nhân. Thứ nhất là do sức ép của tăng dân số. Nhiều năm gần đây, chúng ta không làm tốt công tác kế hoạch, bố trí, điều động dân cư trên cả nước mang tính chất chiến lược. Chúng ta để vấn đề này phát triển tự phát, dẫn đến sức ép dân số. Thứ hai là do đời sống quá khó khăn. Đáng ra chúng ta phải điều chỉnh đất đai, bố trí lao động, nhưng chưa thực hiện tốt việc này. Những hạn chế này cũng diễn ra chủ yếu ở vùng đồng bào đặc biệt khó khăn. Có những bản dân cư mà thiên tai chỉ ập xuống một lần là mất hết tất cả, không còn gì, ví dụ ở Văn Chấn, Yên Bái. Ủy ban Dân tộc đã triển khai kiểm tra cả đầu đi và đầu đến ở Tây Nguyên thì thấy không thể để người dân ở lại Văn Chấn, Yên Bái. Vì nếu ở lại thì người dân không có đất để ở, chưa nói đến đất để sản xuất. Trong khi đó, diện tích đất của anh em họ hàng cũng không nhiều, diện tích đất cho mỗi người thấp. Điều này dẫn đến tình trạng di cư tự do. Vấn đề này không chỉ là khuyết điểm mà là trách nhiệm của các cơ quan chức năng. Nói thẳng thắn là như vậy.

Thứ ba là, chúng ta đã thu hồi đất cho các mục đích công cộng. Tôi đồng ý với chủ trương thu hồi đất phục vụ nhu cầu chung. Nhưng triển khai thực hiện xuống từng dự án một thì chúng ta xem xét chưa khả thi. Nhiều dự án tôi không muốn nói lại nữa, nguyên tắc chỉ đạo của QH là đất ở nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Nhưng ai thực hiện, ai kiểm điểm công tác này thì chưa rõ. Trách nhiệm thuộc bộ ngành nào, của địa phương hay của ban quản lý dự án đều chưa rõ. Ngay cả kiến nghị sau giám sát cũng chưa được triển khai nghiêm túc. Khắc phục hạn chế này không chỉ trong một, hai ngày mà phải có chỉ đạo chung, định hướng của các cơ quan có thẩm quyền, các cá nhân liên quan trực tiếp đến dự án. Tôi nói thật, đồng bào dân tộc thiểu số là nạn nhân. Đời sống khó khăn là một chuyện, nhưng một bộ phận đồng bào là nạn nhân bị mua chuộc, lợi dụng từ cá nhân ở nơi khác đến. Trách nhiệm này thuộc về ai? Công tác tuyên truyền, giáo dục, công tác quản lý. Trước hết phải nói về các cấp ủy đảng ở địa phương vì gần với đồng bào nhất. ĐBQH phải chất vấn các bộ ngành về vấn đề này. Nhưng trách nhiệm của các địa phương ở đâu? Chúng ta cứ kiểm điểm Trung ương, vậy địa phương có trách nhiệm như thế nào? Lẽ ra, Phiên giải trình này phải mời cả lãnh đạo các địa phương có nhiều vi phạm đến. Có như vậy mới rõ trách nhiệm. Ngân sách giao cho địa phương để thực hiện nhưng có khi vấn đề xảy ra thì chỉ các bộ chịu trách nhiệm, còn địa phương đứng ngoài. Tình trạng này là không ổn.

Thứ tư, tôi thực sự thông cảm với một số địa phương do không còn quỹ đất sản xuất. Chúng ta cứ ép tại sao không bố trí đất ở, đất sản xuất cho bà con. Nhưng tôi hỏi là ai giữ quỹ đất dự trữ, quỹ đất dự trữ của cả nước ở đâu? Mỗi địa phương bố trí bao nhiêu đất để làm quỹ đất dự trữ, bố trí cho các hộ gia đình phải chuyển khỏi nơi ở. Chưa địa phương nào thực hiện công tác này. Vấn đề này chúng ta phải thấy là rất khó. Khi không có điều kiện để làm thì thà rằng không nói. Một vấn đề không khả thi, không làm được, nhưng cứ nói thì sẽ giảm đoàn kết trong đồng bào, khiến tư tưởng của đồng bào không thông. ĐBQH chất vấn vì sao không giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Không phải chúng tôi không làm mà lấy đất ở đâu để bố trí cho đồng bào? Tôi đề nghị, trên cơ sở sắp xếp lại, xem là nếu không còn quỹ đất của cả nước thì QH, Chính phủ phải có chủ trương, có nghị quyết về bố trí đất cho đồng bào; điều động, bố trí lại dân cư, tùy tỉnh nào có điều kiện khả thi thì bố trí đất thổ cư cho đồng bào. Đây không chỉ là việc của một vài cơ quan liên quan, mà là sự nghiệp chung của cả nước, các tỉnh phải chia sẻ. Cần sắp xếp, bố trí trên cả nước, xác định rõ nơi nào không còn quỹ đất, nơi nào có khả năng bố trí đất, mỗi tỉnh bố trí được cho bao nhiêu hộ dân để san sẻ cho các địa phương khác. QH cần có chủ trương về vấn đề này. Trên cơ sở đó, các bộ, ngành sẽ nghiên cứu để xây dựng phương án thực hiện.

Phó chủ tịch Hội đồng Dân tộc Danh Út: Đề nghị hai Bộ trưởng cho biết, kết quả sử dụng đất kém hiệu quả các nông, lâm trường giao cho địa phương để cấp cho đồng bào như thế nào? 

Thiếu đất ở và đất canh tác là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, tái nghèo, phát sinh nghèo dai dẳng trong đồng bào dân tộc thiểu số. Theo thống kê qua giám sát của UBTVQH, đến hết năm 2012, cả nước có trên 300 nghìn hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất hoặc không có đất. Theo tinh thần việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất trong 3 năm với mục tiêu đến năm 2015 theo Nghị quyết của UBTVQH, Thủ tướng là giải quyết được 90% hộ thiếu đất ở, đất sản xuất - có thực hiện được không? Trách nhiệm của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn như thế nào?

Hiện nay, đồng bào dân tộc thiểu số thiếu hoặc không có đất trong khi đó, đất của các lâm, nông trường khoảng 6 triệu ha lại có tình trạng quản lý kém hiệu quả, sử dụng không đúng mục đích như ý kiến Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc đã nêu. Đề nghị hai Bộ trưởng cho biết, kết quả sử dụng đất kém hiệu quả các nông lâm trường giao cho địa phương để cấp cho đồng bào như thế nào? 

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử: Đây là vấn đề lớn, nếu kéo dài sẽ phức tạp hơn nên cần đưa ra để QH quyết

Việc giao trách nhiệm quản lý đất đai không rõ ràng. Làm Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc hai nhiệm kỳ, tôi thấy, trước đây do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện, sau giao cho Ủy ban Dân tộc thực hiện. Tuy nhiên, Ủy ban Dân tộc không có chức năng quản lý đất đai. Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, cơ cấu của Ủy ban cũng không có câu nào quy định chức năng này. Ủy ban Dân tộc không được bố trí nguồn lực, không giao nhiệm vụ thì sẽ thực hiện như thế nào? Lấy cái gì để giao đất, quyền nào để thu hồi đất của nông lâm trường? Cơ chế điều hành của chúng ta hiện nay là không đúng sân. Đất sản xuất thuộc về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, quản lý đất đai nói chung thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nhưng trên thực tế, đất sản xuất, đất ở do Ủy ban Dân tộc quản lý. Đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc không phải là đất trên địa bàn nước ta, thuộc trách nhiệm của các bộ, ngành chuyên môn. Giao nhiệm vụ nhưng không bố trí tiền để chúng tôi thực hiện, chỉ đạo. Chúng tôi đã làm việc với các địa phương ở khu vực Tây Nguyên. Bây giờ chắc đã khảo sát xong rồi, từ năm 2006 đến 2012 thì có tình trạng một diện tích lớn đất của Nhà nước không canh tác, song cũng không bố trí cho người dân được. Chúng ta chưa có giải pháp tháo gỡ tình trạng này. Hiện nay mới chỉ làm theo hình thức phát canh thu tô, đất vẫn để đấy, trong khi đồng bào không có đất sản xuất. Tôi xin khẳng định các tỉnh Tây Bắc không còn đất để bố trí, còn Tây Nguyên và Tây Nam bộ chưa bố trí đất hợp lý.

Tôi xin đề nghị, đây là vấn đề lớn, nếu kéo dài sẽ phức tạp hơn nên cần đưa ra để QH quyết.

Bộ trưởng Bộ NN và PTNT Cao Đức Phát: Chúng ta tiếp tục rà soát lại các nông, lâm trường quốc doanh, trên cơ sở đó, có thể thu hồi một phần đất phù hợp để ưu tiên giải quyết cho đồng bào dân tộc thiểu số

Vấn đề thiếu đất ở và đất sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số là vấn đề lớn mà Đảng và Nhà nước cũng đã có những quyết sách. Các cơ quan chức năng cùng với các địa phương đã cố gắng triển khai thực hiện. Tuy nhiên hiện nay đây vẫn là vấn đề mà đồng bào ở các địa phương cũng đang có nhu cầu để tiếp tục giải quyết. Thời gian vừa qua, trong quá trình triển khai thực hiện, chúng tôi thấy rằng có những khó khăn chính là nguồn đất để giải quyết cho đồng bào phù hợp.

Trước tình hình được đặt ra thì hướng giải quyết tiếp nên như thế nào? Theo tôi, thứ nhấtlà chúng ta tiếp tục rà soát lại các nông, lâm trường quốc doanh theo Nghị quyết gần đây nhất của Bộ Chính trị, trên cơ sở đó có thể thu hồi một phần đất phù hợp để tiếp tục ưu tiên giải quyết cho đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn. Thời gian vừa qua, thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ, năm 2005 các địa phương đã thu hồi 890 nghìn ha của các nông, lâm trường, trong đó, các nông trường đã bàn giao tổng cộng là 37,8 nghìn ha, các lâm trường đã giao 641 nghìn ha, và các ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ là 211 nghìn ha. Như vậy chủ yếu là đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp thì hạn chế. Thứ hai, theo chúng tôi thì nhiều nơi bây giờ cũng không còn đất để giải quyết cho đồng bào sản xuất nông nghiệp nhưng mà quỹ đất lâm nghiệp thì còn nhiều hơn. Vì thế, Nhà nước cũng đã có chủ trương là sẽ đẩy mạnh việc giao đất, giao rừng, khoán rừng cho đồng bào. Thủ tướng cũng đã có quyết định số 231 năm 2005 là thí điểm giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số và cộng đồng các dân tộc thiểu số ở các thôn bản thì bây giờ cũng đã thực hiện được 118 nghìn ha cho 5.427 hộ. Theo tôi, chủ trương này có thể tiếp tục thực hiện. Ở các địa bàn thuộc Chương trình 30a thì thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, cũng đã giao khoán bảo vệ rừng cho đồng bào và định mức giao khoán cũng được nâng cao hơn ở những nơi khác là 200.000 đồng/ha/năm. Thứ ba, theo tôi là phải tiếp tục các nỗ lực để hỗ trợ cho đồng bào sản xuất có hiệu quả hơn trên diện tích hiện có.Thứ tư, ở nhiều nơi tùy theo điều kiện thì cần phải tiếp tục thực hiện các chính sách để hỗ trợ đồng bào phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp; trong đó, chúng tôi thấy việc đào tạo nghề cho đồng bào thông qua thực hiện chương trình đào tạo nghề nông thôn, như vừa qua Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã thực hiện đào tạo cho hơn 200 nghìn đồng bào là một hướng đi đúng và hiệu quả. Thủ tướng cũng đã có quyết định số 231 năm 2005 về các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các ban quản lý rừng đóng chân trên địa bàn có các đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống thì ưu tiên thu hút con em của đồng bào vào. Đến nay cũng thực hiện, theo con số tổng hợp của chúng tôi là đã thu hút được 4 nghìn lao động. Theo tôi đây cũng là hướng đi cần phải tiếp tục. 

Phó chủ tịch HĐDT Mã Điền Cư: Nhà nước đã huy động, bố trí nguồn lực khá lớn và trong thời gian khá dài nhưng tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn trên 50%? Trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội như thế nào?  

Vừa qua, Nhà nước đã huy động, bố trí nguồn lực khá lớn dành cho các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn và các huyện nghèo trong thời gian khá dài. Giai đoạn 2005 - 2012, tổng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước đầu tư cho các chính sách trực tiếp giảm nghèo đạt 167.793 tỷ đồng, nhưng các huyện nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số có nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn 50%, cá biệt có nơi vẫn còn trên 60%. Đề nghị Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, các bộ, ngành có liên quan làm rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước của mình và đưa ra biện pháp gì nhằm hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ giảm nghèo giai đoạn 2013 - 2015 và các giai đoạn tiếp theo?

Bộ trưởng Bộ LĐ, TB và XH Nguyễn Thị Hải Chuyền: Phải ưu tiên nguồn lực để đầu tư hạ tầng thiết yếu, tạo điều kiện cho bà con phát huy nội lực là chính

Giai đoạn 2006 - 2012, Chính phủ đã thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo quốc gia, thực hiện phân công cho mỗi ngành phụ trách các lĩnh vực cụ thể về y tế, giáo dục, đất ở, tạo việc làm… đầy đủ các lĩnh vực. Trên cơ sở đó, các ngành đã tham mưu hoạch định chính sách. Mặc dù trong quá trình hoạch định đó đã có sự phối hợp nhưng vẫn còn những chính sách chồng chéo. Để giải quyết vấn đề này, Ban chỉ đạo Giảm nghèo quốc gia đã chỉ đạo phải rà soát lại, những chính sách nào chồng chéo thì phải lược bỏ đi. Ví dụ như Bộ trưởng Giàng Seo Phử đã nói, Chương trình 30a, Chương trình 135 giai đoạn III tới đây, Chính phủ sẽ tiếp tục nghiên cứu, sắp xếp lại.

Về giải pháp, báo cáo với ĐBQH và cử tri cả nước, một trong những giải pháp ưu tiên, với trách nhiệm Ban chỉ đạo quốc gia về giảm nghèo, họp Ban chỉ đạo đã xác định là phải tiếp tục tập trung cao cho các vùng khó khăn, vùng đặc biệt khó khăn với giải pháp rất cụ thể.

Thứ nhất, tới đây sẽ tập trung nguồn lực của giai đoạn còn lại cho các huyện nghèo, xã nghèo. Đầu tiên có mốc huyện nghèo, và đến nay có những huyện trong đó số huyện đang được hưởng những chính sách và chương trình 30a. Tới đây, theo chỉ đạo của Chính phủ thì tập trung ưu tiên tăng nguồn lực cho số này và giao ổn định về nguồn lực đầu tư, dự án theo Chương trình 30a trung hạn chứ không giao dài hạn. Như vậy, để giúp cho các vùng đồng bào dân tộc giảm nghèo thì Chính phủ xác định phải ưu tiên nguồn lực để đầu tư hạ tầng thiết yếu, đó là, hạ tầng về sinh hoạt, hạ tầng sản xuất, hạ tầng tiếp cận dịch vụ để tạo điều kiện cho bà con phát huy nội lực là chính.

Thứ hai, giảm dần những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thay bằng chính sách khuyến khích để người dân tự vươn lên bằng cách tăng nguồn lực, tăng nguồn vốn cho vay để phát triển sản xuất và tăng hướng dẫn nghề nghiệp để bà con tự sản xuất và thoát nghèo. Các chính sách hỗ trợ trực tiếp là phù hợp với giai đoạn những năm 2.000 trở lại đây, tức là hỗ trợ trực tiếp bằng tiền học, tiền điện, tiền nước thì tới đây sẽ giảm dần và tăng đầu tư cho cộng đồng khu vực nói chung, khuyến khích hộ nghèo vay các nguồn vốn ưu đãi cho người nghèo, người cận nghèo; đặc biệt là đồng bào dân tộc, khi có dự án thì phải ưu tiên cho đồng bào vay để làm.

Thứ ba, phân loại đối tượng. Tới đây, trong số đối tượng nghèo thì vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng cũng như cả nước nói chung phải phân loại nguyên nhân giảm nghèo và Ban chỉ đạo cũng đã thống nhất, riêng đối tượng thuộc diện hộ nghèo không còn sức lao động thì chuyển sang nhóm để bảo trợ xã hội, không để trong nhóm hộ nghèo nữa. Còn những hộ nghèo thiếu đất, thiếu vốn, kinh nghiệm thì tùy theo mức độ để giao cho, phân cấp cho chính quyền địa phương trên cơ sở đó đề xuất những chính sách hỗ trợ cho nhóm đối tượng này cho phù hợp. Còn một số giải pháp khác là, tuyên truyền để bà con chủ động, phát huy nguồn lực, như vừa qua cũng có hiện tượng trong chính sách hỗ trợ trực tiếp, có một bộ phận còn ỷ lại vào chính sách.

Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai: Tới đây, trong bố trí ngân sách vẫn quán triệt nguyên tắc ưu tiên hàng đầu cho chính sách an sinh xã hội, trong đó có giảm nghèo

Tổng nguồn lực huy động dành cho giảm nghèo giai đoạn 2005 - 2012 là 867.450 tỷ đồng; trong đó, ngân sách Nhà nước hỗ trợ trực tiếp là 167.793 tỷ và ngân sách hỗ trợ gián tiếp thông qua các chính sách, chương trình dự án là 180.500 tỷ và vốn trái phiếu Chính phủ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng là 263 nghìn tỷ đồng, vốn ODA nước ngoài là 37 nghìn tỷ đồng và cho vay tín dụng là 199 nghìn tỷ đồng, vốn huy động từ xã hội là 17.382 tỷ đồng. Đó là tổng nguồn lực cho 8 năm. Như vậy, bình quân mỗi năm là 108,1 nghìn tỷ đồng; trong đó hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp từ ngân sách là hơn 40 nghìn tỷ đồng. Có ý kiến cho rằng, nguồn lực bố trí chưa đủ. Đúng là thực tế trong thực hiện có những chương trình chưa bố trí đủ 100% nguồn lực như trong thống kê số liệu. Tuy nhiên, nhiều chương trình bố trí được 100% như chương trình bảo hiểm y tế, các chương trình có liên quan đến hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo hay chương trình nhà ở 167 cũng đã bố trí 100% hay như chương trình hỗ trợ về giáo dục cũng bảo đảm 100%. Tuy nhiên, 100% đó, trong quá trình thực hiện Chính phủ cũng như Bộ Tài chính thấy rằng, cũng có những lúc, có nơi này nơi khác còn chậm (không phải tất cả đều chậm), một phần do triển khai thực tế ở địa phương, một phần do thủ tục, một phần do các văn bản, chính sách ban hành của các bộ, ngành có liên quan chưa thực sự kịp thời. Nhưng cũng có nhiều chính sách bố trí đủ nguồn lực.

Chính sách bố trí đất sản xuất không đủ nguồn lực thì không phải vì một nguyên nhân duy nhất là không bố trí ngân sách mà thực tế như Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban dân tộc đã nêu tức là có 4, 5 nguyên nhân trong đó nguồn lực chỉ là một phần thôi. Hiện nay, Chính phủ cũng đang đưa ra các giải pháp tổng thể cho chương trình giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tới đây trong đó, đồng bào dân tộc thiểu số có chương trình này. Mới cách đây mấy ngày, Chính phủ có phiên họp trực tuyến với 63 tỉnh, thành phố trong đó, Trưởng ban chỉ đạo giảm nghèo bền vững quốc gia, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh đã chỉ đạo trong giai đoạn tới, bố trí ngân sách vẫn quán triệt nguyên tắc ưu tiên hàng đầu cho chính sách an sinh xã hội, trong đó có giảm nghèo. Cho nên Bộ Tài chính thực hiện Nghị quyết của QH, của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ thì quán triệt tinh thần này trong bố trí ngân sách những năm tiếp theo.

Bố trí đủ cho ngân sách các chương trình là mong muốn của tất cả các bộ, ngành, các cơ quan quản lý Nhà nước và toàn thể đồng bào. Tuy nhiên, ngân sách những năm gần đây 2013, 2014 và những năm tới rất là khó khăn cho nên với nỗ lực trong bối cảnh ngân sách khó khăn như vậy thì sẽ có những cái ưu tiên hơn và có những cái ưu tiên vừa vừa, có những cái không được ưu tiên. Ngân sách dành cho chương trình an sinh xã hội và giảm nghèo được ưu tiên hàng đầu. Chính phủ cũng đã chỉ đạo là từ nay cho đến khi ban hành các chính sách mới, hay tới đây khi rà soát lại các chính sách này thì cũng phải tính đến nguồn cân đối ngân sách và tránh việc chính sách ban hành ra rồi nhưng không có nguồn gây ra không khả thi, không được thực hiện làm giảm lòng tin của các đối tượng thụ hưởng chính sách.

ĐB Nguyễn Thanh Hồng (Bình Dương): Có những tỉnh 100% đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ học nghề - số liệu này được hình thành trên cơ sở nào, có bảo đảm chính xác?

Tôi rất băn khoăn về các số liệu trong các báo cáo giải trình này, cụ thể, số liệu báo cáo về chính sách dạy nghề theo Quyết định 159. Ví dụ, Báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội nêu, có những tỉnh 100% là người dân tộc thiểu số được hỗ trợ học nghề. Số liệu này được hình thành trên cơ sở nào để bảo đảm độ chính xác của các con số trong báo cáo?

Bộ trưởng Bộ LĐ, TB và XH Phạm Thị Hải Chuyền: Con số này không đúng

Về lĩnh vực dạy nghề, con số báo cáo 100% đồng bào huyện nghèo được dạy nghề, cái này không đúng. Tức là theo Nghị quyết 71 thì Chính phủ hỗ trợ đồng bào dân tộc, trong đó được học nghề. Báo cáo chỉ thống nhất theo con số của các tỉnh gửi lên là 100% người lao động học nghề là người dân tộc thiểu số, thì con số này khác với 100% người dân tộc được hỗ trợ học nghề. Theo báo cáo của các tỉnh, đồng bào dân tộc có hai chương trình dạy nghề, học nghề. Đồng bào dân tộc chủ yếu được hưởng những chương trình ngắn hạn, tức là chương trình trực tiếp như Chương trình 1956. Tuy nhiên theo con số trong báo cáo này, với trách nhiệm là Bộ quản lý, tôi thấy cũng phải xem xét thêm về báo cáo cụ thể của các địa phương. Ở đây cũng trên cơ sở báo cáo của các địa phương để chúng tôi báo cáo. Còn hướng dạy nghề có hai loại. Một là, dạy nghề cho đồng bào đi xuất khẩu thì có Quyết định 71 riêng, tức là ưu tiên cho đồng bào dân tộc bằng hỗ trợ trực tiếp để đào tạo cho đồng bào đi xuất khẩu lao động. Hai là, theo Chương trình 1956 hỗ trợ cho đồng bào trong sản xuất nông nghiệp nói chung và nông nghiệp tại địa phương. Tới đây sẽ có chính sách ưu tiên, chúng tôi sẽ phản ánh với Chính phủ, hiện nay, học sinh đi học trung học, cao đẳng, đại học là người dân tộc thì được hưởng chính sách nội trú, nhưng học sinh học nghề thì chưa được thực hiện cái này. Vừa qua, chúng tôi đi kiểm tra ở Sơn La, Lạng Sơn có đại biểu cũng đề xuất và chúng tôi thấy đề xuất như vậy là rất hợp lý. Nên tới đây chúng tôi cũng đề nghị là, đối với học sinh người dân tộc đi học bất kỳ cái gì, kể cả học nghề, cũng phải được ưu tiên ở nội trú như các hình thức học khác.

ĐB Nguyễn Thị Khá (Trà Vinh): Các Bộ trưởng có giải pháp gì đồng bộ, quyết liệt và thiết thực để thay đổi nhận thức, nâng cao dân trí, trình độ sản xuất và ý chí vươn lên thoát nghèo cho đồng bào?

Việc thực hiện chính sách pháp luật về giảm nghèo giai đoạn 2005 – 2012, nói chung cả nước đã đạt kết quả thật đáng trân trọng. Nhưng khi Đoàn giám sát, khảo sát của UBTVQH đến vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên thì chúng tôi nhận thấy công tác giảm nghèo còn nhiều vấn đề khó khăn, bất cập. Các Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ủy ban Dân tộc có giải pháp gì quyết liệt, đồng bộ, thiết thực để làm thay đổi nhận thức, nâng cao dân trí, trình độ sản xuất và ý chí vươn lên thoát nghèo cho đồng bào dân tộc thiểu số để cùng với các chính sách được ban hành, được sử dụng hiệu quả giúp đồng bào thoát nghèo bền vững, đạt mục tiêu Đảng, Nhà nước đặt ra?

Bộ trưởng Bộ NN và PTNN Cao Đức Phát: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ cố gắng cao nhất để phối hợp và hỗ trợ cho đồng bào trong thời gian tới

Các giải pháp thúc đẩy sản xuất nông nghiệp để nâng cao thu nhập cho đồng bào các dân tộc thiểu số, đối với chúng tôi, đây là vấn đề rất quan trọng. Chúng tôi cũng đã và đang nỗ lực phối hợp với các địa phương nghiên cứu và triển khai thực hiện các giải pháp cụ thể. Chúng tôi chủ trương trong thời gian tới sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ nghành và các địa phương thực hiện một số hướng chính như sau:

Trước hết, về quan điểm, chủ trương là sẽ hỗ trợ mạnh để đồng các dân tộc thiểu số, đồng bào các vùng miền núi chuyển mạnh sang phát triển sản xuất hàng hóa. Thay vì tự cung, tự cấp hoặc tự cung, tự cấp còn dư thì mới bán như trước đây thì chủ trương hiện nay của chúng tôi là đề nghị các địa phương chỉ đạo theo hướng giúp bà con chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, ngay từ đầu định hướng sang sản xuất hàng hóa để bán, để có nhiều thu nhập hơn để cải thiện cuộc sống của mình. Với tư tưởng như vậy thì cần phải rà soát lại quy hoạch, lựa chọn ở mỗi vùng những cây trồng, vật nuôi là ưu thế. Không chỉ ưu thế về mặt tự nhiên mà còn phải có thị trường thì mới tập trung vào phổ biến cho dân và hướng dẫn hỗ trợ dân sản xuất.

Hai là, làm tốt hơn công tác khuyến nông. Hiện nay, chúng ta đã phát triển hệ thống khuyến nông tới tận xã, có nhiều nơi đã đến tận thôn buôn nhưng mà lực lượng khuyến nông ở các cơ sở này còn rất thiếu thốn về nguồn lực, khả năng hoạt động còn nhiều hạn chế. Chúng tôi cũng chủ trương sẽ phối hợp với các địa phương hỗ trợ tích cực hơn để hệ thống khuyến nông hoạt động có hiệu quả và đặc biệt là phải hoạt động theo như phương thức và với những chính sách phù hợp với đặc thù của đồng bào các dân tộc thiểu số ở những vùng khác nhau. Rõ ràng là không thể làm công tác khuyến nông cho đồng bào dân tộc thiểu số mà không sử dụng tiếng của các dân tộc đó. Và chủ yếu là khuyến nông qua trực tiếp chứ không phải là phổ biến, thông qua các phương tiện đại chúng. Khi đã lựa chọn những cây con phù hợp cho từng vùng thì phải rà soát để bảo đảm cung cấp đủ cho dân.

Để tạo điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa thì rõ ràng phải nhanh chóng phát triển các mạng lưới giao thông và các phương tiện thông tin liên lạc. Điều này, các bộ, ngành có liên quan cũng đang nỗ lực và chúng ta phải có sự phối hợp để tập trung vào những vùng sản xuất hàng hóa. Chúng tôi cũng thấy một điều rất quan trọng như các đại biểu đã nêu đó là làm ra nhưng bán cho ai? Một mặt, chúng ta định hướng sản xuất theo thị trường, mặt khác cũng rõ ràng, chúng tôi có kiến nghị với QH điều chỉnh về chính sách thuế để khuyến khích mạnh hơn các doanh nghiệp về với vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc. Những doanh nghiệp vừa qua như Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam hoạt động ở Cao Bằng, ở Lạng Sơn hay là một doanh nghiệp chế biến tre ở Điện Biên  cho thấy, sự hiện diện của những doanh nghiệp như vậy hỗ trợ rất hiệu quả cho đồng bào phát triển sản xuất hàng hóa và có thu nhập cao hơn. Tuy nhiên, có chủ trương đúng nhưng điều quan trọng là phải có sự chỉ đạo rất sâu sát, quyết liệt của chính quyền địa phương các cấp phối hợp với các bộ ở Trung ương. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ cố gắng cao nhất để phối hợp và hỗ trợ cho đồng bào trong thời gian tới.

 

Nguồn tin: nguoidaibieu.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 
Trả lời cử tri

Chuyên mục cơ quan Dân cử và Cử tri

Người tốt việc tốt
Quốc hội
Báo đại biểu nhân dân

THƯ VIỆN ẢNH