TIN HOẠT ĐỘNG

VĂN BẢN

TƯ LIỆU

Ý kiến cử tri - Ý kiến Đại biểu

GIỚI THIỆU VỀ CAO BẰNG

LIÊN KẾT

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 2


Hôm nayHôm nay : 2082

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 47727

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1552992

Công báo Cao Bằng
Thủ tục hành chính Cao Bằng
Cổng thông tin Cao Bằng

Trang nhất » Tin hoạt động » Tổ chức bộ máy » Hội đồng nhân dân tỉnh

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân

Thứ tư - 20/06/2012 05:00
     * Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.

Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.

Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.

*Nguyên tắc hoạt động

HĐND hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường pháp chế XHCN, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức và trong bộ máy chính quyền địa phương.

     HĐND chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

     Hiệu quả hoạt động của HĐND được bảo đảm bằng hiệu quả của các kỳ họp HĐND, hiệu quả hoạt động của Thường trực HĐND, UBND và các Ban của HĐND và của các đại biểu HĐND. 

     Trong hoạt động của mình HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND phối hợp chặt chẽ với Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.

     Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, HĐND ra nghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó; những nghị quyết về các vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì trước khi thi hành phải được cấp trên phê chuẩn.

*Tổ chức và nhiệm kỳ của HĐND.

- HĐND Tỉnh có Thường trực HĐND và các Ban của HĐND.

          - Nhiệm kỳ mỗi khoá của HĐND các cấp là 5 năm, kể từ Kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá đó đến kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá sau.

          -  Nhiệm kỳ của Thường trực HĐND và các Ban của HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp. Khi HĐND hết nhiệm kỳ, Thường trực HĐND và các Ban của HĐND tiếp tục làm việc cho đến khi HĐND khoá mới bầu ra Thường trực HĐND và các Ban HĐND mới.

 * Kỳ họp HĐND

          HĐND thảo luận và ra nghị quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình tại các kỳ họp của HĐND. Nghị quyết của HĐND phải được quá nửa tổng số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu HĐND được quy định tại điều 46 của Luật này. HĐND quyết định việc biểu quyết bằng cách giơ tay, bỏ phiếu kín hoặc bằng cách khác theo đề nghị của Chủ tọa phiên họp.

          HĐND các cấp họp thường lệ mỗi năm 2 kỳ. Ngoài kỳ họp thường lệ, HĐND tổ chức các kỳ họp chuyên đề hoặc kỳ họp bất thường theo đề nghị của Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND cùng cấp hoặc khi có ít nhất một phần 3 tổng số đại biểu HĐND cùng cấp yâu cầu. Thường trực HĐND quyết định triệu tập kỳ họp thường lệ của HĐND chậm nhất là 20 ngày, kỳ họp chuyên đề hay bất thường chậm nhất là mười ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

          HĐND họp công khai. Khi cần thiết, HĐND quyết định họp kín theo đề nghị của Chủ tọa cuộc họp hoặc của Chủ tịch UBND cùng cấp.

          Ngày họp, nơi họp và chương trình của kỳ họp HĐND phải được thông báo cho nhân dân biết, chậm nhất là năm ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp.

          Kỳ họp HĐND được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu HĐND tham gia.

          Đại biểu Quốc hội, Đại biểu HĐND cấp trên đã được bầu ở địa phương, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương và đại diện cử tri được mời tham dự kỳ họp HĐND, được phát biểu ý kiến nhưng không biểu quyết.

          Tài liệu cần thiết của kỳ họp HĐND là phải được gửi đến đại biểu HĐND chậm nhất là năm ngày trước ngày khai mạc kỳ họp.

Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá HĐND được triệu tập chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu HĐND. Ở miền núi, nơi nào đi lại khó khăn, thì kỳ họp thứ nhất của HĐND tỉnh được triệu tập chậm nhất là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày bầu cử đại biểu HĐND.

          Kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá HĐND do Chủ tịch HĐND khoá trước triệu tập và chủ toạ cho đến khi HĐND bầu được Chủ tịch HĐND khoá mới.

          Trong trường hợp khuyết Chủ tịch HĐND thì Phó Chủ tịch HĐND triệu tập kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá mới. Nếu khuyết cả Chủ tịch và Phó Chủ tịch HĐND thì thường trực HĐND cấp trên trực tiếp chỉ định triệu tập viên để triệu tập và Chủ toạ kỳ họp cho đến khi HĐND bầu được Chủ tịch HĐND; ở cấp tỉnh thì do Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ định triệu tập viên.

          Nghị quyết và biên bản các phiên họp HĐND phải do Chủ tịch HĐND ký chứng thực.

          Nghị quyết và biên bản các phiên họp HĐND tại kỳ họp thứ nhất khi chưa bầu Chủ tịch HĐND khoá mới do Chủ tịch HĐND khoá trước ký chứng thực. trong trường họp Chủ tịch HĐND vắng mặt thì Chủ toạ phiên họp ký chứng thực nghị quyết và các biên bản phiên họp của HĐND.

          Chậm nhất là muời ngày, kể từ ngày bế mạc kỳ họp, nghị quyết và biên bản của kỳ họp phải được gửi lên Thường trực HĐND, UBND cấp trên trực tiếp; nghị quyết và biên bản của kỳ họp HĐND cấp tỉnh phải được gửi lên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ.

          Tại phiên họp đầu tiên của kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá, HĐND bầu Ban thẩm tra tư cách đại biểu HĐND theo sự giới thiệu của Chủ toạ kỳ họp. Căn cứ báo cáo của Ban thẩm tra tư cách đại biểu, HĐND ra nghị quyết xác nhận tư cách đại biểu HĐND hoặc tuyên bố việc bầu đại biểu nào đó là không có giá trị. Trong nhiệm kỳ, nếu có bầu cử bổ sung đại biểu thì HĐND thành lập Ban thẩm tra tư cách đại biểu được bầu bổ sung. Ban thẩm tra tư cách đại biểu hết nhiệm vụ khi việc thẩm tra tư cách đại biểu đã hoàn thành.

     Đại biểu HĐND có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ nêu trên. Việc bầu cử các chức vụ này được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách đề cử chức vụ từng người.

                           (Trích một s điều của Luật tổ chức HĐND, UBND năm 2003)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 
Trả lời cử tri

Chuyên mục cơ quan Dân cử và Cử tri

Người tốt việc tốt
Quốc hội
Báo đại biểu nhân dân

THƯ VIỆN ẢNH